Quá trình dìu dắt cùng con thâm nhập cuộc sống

 quá trình dìu dắt cùng con thâm nhập cuộc sống

 Slide 1 Hãy dành đôi phút suyGiới thiệu về quá trình dìu dắt cùng con thâm nhập cuộc sống ngẫm xem bạn làm thế nào để thích ứng với thế giới khi bạn biết nó ngày càng MESSIER – hỗn loạn hơn. Ai đã dìu dắt dạy dỗ bạn? Hãy cố nhớ lại vài trải nghiệm bước ngoặt mà từ đó bạn đã học được cách tự giải quyết các vấn đề cuộc sống Slide 2: Chúng ta sẽ tìm hiểu xem cách thay đổi lối tư duy của bộ não và sửa chữa nó. Slide 3: Hãy cùng bắt đầu với việc tìm xem đâu là cách tốt nhất để dạy con người xử lý các vấn đề cuộc sống một cách linh hoạt? Việc này diễn ra như thế nào với trẻ thường? Mặc dù chúng thường không được dạy ở trường học. Và nếu bạn nhốt ai đó vào phòng 5 năm thì khi được thả ra, người đó cũng không thể thích ứng với cuộc sống một cách linh hoạt được. Hầu hết trẻ đều học thích ứng linh hoạt bằng một cách nào đó. Chúng liên tục học hỏi điều này. Câu hỏi là chúng học ở đâu và như thế nào? Thay bằng việc nghĩ ra một cách học mới, chúng ta hãy xem lại xem các trẻ khác làm việc này như thế nào? Và tại sao trẻ TK lại không học được khả năng này? Tất nhiên không phải do khả năng của cha mẹ quá kém, vì họ thường có những trẻ bình thường khác vẫn có khả năng vượt trội về khả năng thích ứng linh hoạt. Cứ như thể chúng lấy hết khôn ngoan của anh/chị/em TK của mình. Rõ ràng không phải tại môi trường (ví dụ như trại trẻ mồ côi) khiến trẻ trở nên TK. Tôi cũng biết nhiều gia đình rất xuề xòa trong việc dạy dỗ con mà con họ không hề bị TK. Một người mẹ “tủ lạnh” có thể làm con bị trầm cảm, cáu gắt, nhưng không thể làm con bị TK được, kể cả nếu bạn cố ý. Slide 4: Dù ở nước nào, nền văn hóa nào, từ hàng ngàn năm nay, bố mẹ luôn là người dìu dắt con cái. Slide 5: Barbara Rogoff đã nghiên cứu quá trình này và gọi nó là “Quá trình dìu dắt cùng con thâm nhập cuộc sống” Đó là từ mà Barbara dùng để miêu tả cách cha mẹ bình thường ở mọi nơi từ bao lâu nay vẫn dạy con mình cách giải quyết vấn đề một cách linh hoạt.

Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Bà cho ra cuốn sách “Apprenticeship in Thinking – Cognitive Development in Social Context”
http://www.amazon.com/Apprenticeship-Thinking-Cognitive-Development-Context/dp/0195070038# Tôi đã dựa trên nghiên cứu này để phát triển ra RDI Slide 6: Con cái là người học việc trong cách tư duy – đó là quá trình phát triển nhận thức. Việc này diễn ra trong quá trình dìu dắt cùng con thâm nhập cuộc sống. Tôi rất thích từ này: cha mẹ là người dìu dắt và cùng tham gia trong các hoạt động xã hội, vừa đồng hành, vừa hỗ trợ, giúp con hiểu và sử dụng hợp lý các công cụ văn hóa. Và giúp con thành đạt trong môi trường văn hóa nơi chúng sinh ra. Và sau này có thể hòa nhập được vào các môi trường văn hóa khác nữa. Với tôi đây là một câu nói rất có ý nghĩa và quan trọng. Vì tôi có cảm giác là vậy thì mình không cần phải tạo ra một vòng quay cuộc sống nữa. Chúa đã tạo ra một vòng quay như vậy rồi. Tôi cảm thấy an tâm hơn hẳn vì đó là Chúa định chứ không phải do tôi định ra. Tôi thầm cảm ơn Chúa và nghĩ rằng bây giờ chỉ việc tìm hiểu xem nó diễn ra thế nào và tại sao lại không diễn ra với trẻ TK. Và chúng ta phải bắt đầu từ đâu. Slide 7: Theo Alan Sourfe thì “quá trình phát triển diễn ra thống nhất, tuần tự, dựa trên cái đã có, nhưng phát triển lên thêm ở mức độ phức tạp hơn” Cái mà tôi thấy rất phiền lòng với giới y học lâm sàng là họ không hề tạo ra một nền tảng. Họ cứ dạy bất cứ kỹ năng gì họ muốn, chẳng hề cân nhắc xem kỹ năng đó cần có nền tảng gì, các kỹ năng có thể hoán đổi trình tự cho nhau. Tôi đã từng làm việc này nhiều năm. Và việc hữu ích nhất tôi làm được là tìm đọc về sự phát triển của trẻ, làm một tấm bằng PhD về Tâm lý phát triển. Dù là người tự kỷ thì họ cũng phải tuân theo trình tự phát triển này. Họ không phải vượn mà là người. Chúng ta thường đặt trẻ trong môi trường an toàn và đề ra một vài thử thách cho trẻ, để trẻ tự khám phá. Sau đó chúng ta làm cho trẻ hiểu rõ về thử thách đó và lại đưa cho trẻ các thử thách mới. Trẻ lại có những khám phá mới. Cứ như vậy thành chu kỳ. Alan đã miêu tả lại chu kỳ này trong cuốn “Emotional Development”. Cuốn sách rất cũ rồi nhưng giá trị của nó thì vẫn còn đó.
http://www.amazon.com/Emotional-Development-Organization-Early-Years/dp/0521629926 Slide 8: Mục tiêu của quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống là chuyển giao kinh nghiệm sống. Có câu nói xa xưa là “Cho người con cá là cho miếng ăn - Dạy người câu cá là cho cả kế sinh nhai”. Tất nhiên quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống là vế sau rồi.
Đó là quá trình chuyển giao kinh nghiệm sống. Tôi đã có được những kinh nghiệm gì từ nền văn hóa này, làm thế nào để tồn tại, thích nghi, thái độ suy nghĩ của tôi. Và theo tác giả đó là lý do hàng đầu trẻ cần có bố mẹ. Nếu không thì tại sao chúng ta cần có cha có mẹ? Điều đáng sợ nhất với tất cả trẻ em trong đó có trẻ TK là cha mẹ đang đánh mất dần vai trò này của mình, có khi là tự nguyện, có khi không tự nguyện, từ bỏ vị trí này của mình. Việc này bắt đầu diễn ra khi có cuộc cải cách nền công nghiệp. Đó là lý do tại sao trong nền văn minh nguyên thủy ta vẫn có thể tìm ra những bậc cha mẹ
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

tuyệt vời nhất. Cha mẹ thì đi làm ở xa, trẻ thì đến trường học, về nhà thì ti vi. Thống kê gần nhất cho thấy mỗi ngày cha mẹ chỉ thực sự dành 20 phút cho con cái. Và thật khó có thể chuyển giao kinh nghiệm sống trong vòng 20 phút mỗi ngày. Cũng có thể là cha mẹ cũng chẳng có nhiều kinh nghiệm sống để truyền cho con nữa không biết chừng. Hãy nhớ đó là mục tiêu của chúng tôi. Và khi đã xác định đó là mục tiêu của chúng ta thì nó sẽ ảnh hưởng như thế nào? Slide 9: Tôi thích dùng ba câu chuyện sau:
1) Tuân theo hay tự lựa chọn
2) Đi thăm quan hay là Định cư
3) Lặp lại trình tự hay nắm bắt bản chất
Slide 10: Đầu tiên là Tuân theo hay tự lựa chọn Làm thủy thủ trên boong tàu hay là thuyền trưởng? Đây là cuốn phim về một tàu chiến của Anh đi trong vùng hải phận ….. Thật ra cuốn sách đó là về cuộc chiến trên biển giữa Anh và Mỹ. Nhưng vì độc giả Mỹ không thích điều đó, vì thế người ta nói trệch thành cuộc chiến giữa Anh và Pháp. Như vậy các độc giả dễ chấp nhận hơn, tôi cũng thích thế. Trên tàu có nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Có thủy thủ làm việc trên boong tàu. Họ thường được chỉ định làm việc này và số ít thì xung phong. Họ được yêu cầu làm theo mệnh lệnh. Yêu cầu là họ phải tuân lệnh, biết các kỹ năng rời rạc để khi họ nhận lệnh, họ sẽ làm mà không cần suy nghĩ. Họ không được phép ý kiến ý cò gì, nếu không thậm chí có thể bị bắn. Tóm lại phải làm những gì sỹ quan chỉ huy hay thuyền trưởng bảo làm. Một tầng lớp trung lưu là các sỹ quan. Thực sự đó là các tập sự của thuyền trưởng, đang học việc để sau này làm thuyền trưởng. Và trong phim bạn sẽ thấy là dù chiến sự kịch tính gấp gáp đến đâu, thuyền trưởng vẫn dành thời gian giảng giải cho thế hệ tập sự này tại sao ông lại nghĩ như vậy, và giao cho họ đảm nhận một vai trò thực thụ trong cuộc chiến. Và một thanh niên thậm chí đã phải cắt bỏ cánh tay sau một trận chiến. Và trong số các thủy thủ già trên boong thậm chí còn có một người bị đạn vào đầu làm chấn thương não và rối loạn nhận thức nhưng vẫn sống. Có hai cảnh phim rất ấn tượng với tôi. Một cảnh là cậu thanh niên bị cụt tay rất buồn chán, thuyền trưởng đã mang cho cậu xem cuốn sách về một vị thuyền trưởng rất nổi tiếng mà chỉ có 1 tay. Để làm thuyền trưởng, không cần phải có cả hai tay. Mà cần bộ não. Và cảnh phim ngay tiếp theo là phẫu thuật viên mở sọ não của người thủy thủ trên boong, dùng thìa lấy ra một phần não. Và ở trận chiến tiếp theo, cậu thanh niên mất một tay vẫn làm tốt việc chỉ đạo một nhóm người. Còn người thủy thủ với nửa bộ não còn lại cũng vẫn ổn. Bởi vì để làm công việc của thủy thủ trên boong không cần dùng nhiều đến bộ não. Chỉ cần phần não biết ghi nhận lệnh và làm theo là được. Có khi thế anh ta làm việc của mình còn tốt hơn. Khi tôi nghe ai đó nói cần huấn luyện trẻ tuân lệnh, nhắc, biết làm các kỹ năng rời rạch, tôi thường nói ngay là “À, người ta đang huấn luyện ra những thủy thủ làm việc trên boong đây”. Nếu bạn là thủy thủ trên boong trong cuộc sống, bạn luôn cần có một người bên cạnh để ra lệnh, và không có lệnh thì bạn không làm gì cả. Nếu bạn định giúp ai tự lập cuộc sống mà làm vậy thì thật buồn. Slide 11: Đi thăm quan hay là Định cư Một ví dụ cũng tương tự là việc đi dã ngoại đến các vùng hoang vu hay là sinh sống ở các vùng đó?
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Nếu bạn đi thăm quan: có thể thuê một hướng dẫn viên du lịch dẫn bạn đi xem cuộc sống nguyên thủy ở đó trong vòng 1 ngày rồi lên thuyền đi về. Bạn thăm thú, và họ chỉ đây là cây này cây kia, đây là người Anh Điêng, người này người kia. Và bạn luôn miệng nói “Thú vị thật đấy”. Sau đó bạn trở về nhà. Và chuyến đi đó để lại ký ước về một kỳ nghỉ đặc biệt gì đó. Người hướng dẫn viên thì tiếp tục công việc để kiếm sống. Nào bây giờ giả sử bạn định sinh sống ở vùng hoang vu đó. Bây giờ cách bạn chọn người giúp bạn làm việc này có gì khác biệt không? Cũng như tốc độ liên lạc giữa bạn và người đó? Và những gì bạn trông đợi họ cho bạn xem nữa? Tất nhiên là có rồi. Bạn đâu cần một người liên tục chỉ trỏ đủ thứ cho bạn. Bạn cần một người chỉ bảo từ từ cho bạn, thử làm cái này cái kia. Bạn cần một người làm cùng với bạn, chỉ dẫn cho bạn, đúng không? Và câu hỏi của tôi là các bạn định làm hướng dẫn viên du lịch hay định làm người chỉ dẫn giúp một người khác ổn định cuộc sống ở nơi mới, và sinh sống tốt ở nơi đó. Khi bạn định giúp trẻ TK cũng vậy, bạn chọn mục tiêu nào? Slide 12: Ví dụ nữa là Lặp lại trình tự hay nắm lấy bản chất: chơi đúng nốt nhạc hay tạo ra âm nhạc? Hồi tôi 35 tuổi, vợ tôi tăng tôi đàn cello nhân ngày sinh nhật. Và món quà này có ý nghĩa rất tượng trưng. Vì hồi tôi học lớp 2, tôi bị liệt vào diện thiểu năng trí tuệ. Tôi rất buồn, mẹ tôi chết vì ung thư, tôi bị cận thị mà chẳng ai biết dù bố tôi là bác sỹ mắt. Bố tôi làm việc rất kinh vì hồi những năm 1973-5 thì làm gì có bảo hiểm y tế, vì thế ai cũng làm việc cật lực để sống. Tôi bị liệt vào diện giảm tập trung chú ý nhưng không phải tăng động, ngồi trong lớp rất buồn rầu. Mặc dù tôi giao tiếp mắt rất tốt, nhưng khi họ gọi tôi lên trả lời, tôi chẳng nắm được họ hỏi gì cả để trả lời trúng. Vì thế họ cho tôi là thiểu năng trí tuệ. Rất may là tôi chỉ bị cho vào lớp đó có vài tuần. Đó là quãng thời gian tuyệt vời. Tôi được ngồi một ghế riêng, đi dã ngoại, đi ngắm hoa. Và giáo viên ở lớp đó nhanh chóng nhận ra tôi không thuộc về lớp đó vì kết quả học của tôi rất tốt. Họ cho tôi và lớp học sinh vượt trội. Chỉ trong vòng có 1 tháng, tôi được chuyển từ lớp thường sang lớp thiểu năng trí tuệ rồi lại lớp học sinh tài năng. Chuyện thật hoàn toàn đấy. Lớp của tôi có chương trình thí điểm cho học sinh tiếp xúc với dàn nhạc giao hưởng. Tôi thì đã bao giờ được thưởng thức âm nhạc đâu vì gia đình không có điều kiện. Họ cho tôi vào phòng hòa nhạc, chơi violin trong vòng 35 phút, sau đó đến đàn cello, đàn … và họ nói tôi hãy chọn 1 thứ đàn đi. Thế là tôi chọn đàn cello vì nó có kích cỡ khoảng bằng người tôi hồi đó đang là lớp 2. Và đó quả là một lựa chọn sai lầm vì hàng ngày bọn lớp 5 thường rượt đuổi theo tôi về tận nhà. Tôi nhỏ người và chạy rất nhanh, nhưng khốn nổi tôi phải mang cái đàn đó sau lưng khi chạy hàng ngày. Nếu là đàn violon thì tôi đã có thể dùng để đánh lại bọn này, còn nếu là đàn.. thì tôi đã che được lưng của mình khỏi bị đánh. Còn đàn cello của tôi thì chẳng giúp được gì cho tôi. Tôi chẳng hề thích cái đàn cello đó chút nào. Và trường tôi đã rất nỗ lực để dạy tôi chơi đàn cello, họ tìm giáo viên đến dạy đàn tận nhà tôi. Tôi sống trên phố và họ thường đến nhà khi tôi đang ngủ.
Vì thế vợ tôi muốn gợi lại chuyện này bằng cách mua đàn cheramio tặng tôi nhân ngày sinh nhật. Và tôi học chơi đàn cello với một nhạc công tài năng đồng thời cũng là sư theo đạo Phật, rời bỏ Hàn quốc sang Mỹ sống để phát triển tài năng âm nhạc của mình. Ông ấy dạy tôi chơi vài tiếng một ngày và tôi cũng đánh được các nốt cơ bản sau 6 tháng. Tuy nhiên âm thanh do tôi tạo ra nghe thật khủng khiếp, nhưng đúng nốt nhạc hoàn toàn. Thầy giáo của tôi liền mang đàn ra ngồi cạnh tôi và bảo rằng hôm nay chúng ta chỉ đánh 1 nốt nhạc thôi nhé. Ông ấy đánh 1 nốt nhạc nghe rất tuyệt. Tôi nhớ là 1 nốt nhạc đó nghe hay như cả bản nhạc. Và rồi ông ấy yêu cầu tôi chơi cùng ông ấy, nhưng ông ấy
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

chơi to hơn tôi nhưng vẫn ở mức nghe thấy tiếng đàn của tôi đang chơi cùng ông. Và tuy ông ấy không hề nói một câu, nhưng tự tôi cũng cảm nhận thấy là “đó mới đúng là âm nhạc”. Ông ấy để tôi tự khám phá mà không cần nói một lời rằng “đó mới đúng là âm nhạc”. Tôi muốn các bạn liên hệ là khi ta làm người dìu dắt trẻ, ta nên tập trung vào dạy trẻ đánh đúng nốt nhạc hay là cho trẻ thấy âm nhạc là thế nào. Slide 13: Thời điểm phải lựa chọn: Với trẻ thường thì việc làm mẫu cho trẻ xem để trẻ tự khám phá vẫn thành công. Nhưng với trẻ TK thì không. Và đây là lúc chúng ta phải lựa chọn:
- Nên bỏ qua quá trình này và tạo ra một quá trình hoàn toàn mới giống như Floor time, Son Rise - Họ thiên về cách diễn lại quá trình này theo một cách khác?
hay
- Nên bỏ qua quá trình đó và cho rằng nó sẽ không diễn ra nữa giống như ABA, dạy trong môi trường dàn dựng? Họ không nhận ra rằng, cách này chỉ dạy cho trẻ được những kỹ năng rời rạch chứ không phải khả năng thích ứng linh hoạt
hay
- Có thể sẽ phải làm có phương pháp, nhưng chúng ta sẽ tái tạo lại quá trình này, làm chậm hơn, và dễ hiểu hơn và có chủ ý hơn cho những trẻ đã bỏ qua cơ hội lần đầu? Đó chính là ý tưởng “cho trẻ và cha mẹ cơ hội làm lại lần thứ 2” khi mà lần thứ nhất họ không thành công chứ không bỏ qua nó.
Khi xem xét cách lựa chọn này, là những gì tôi có thể nghĩ ra được, lựa chọn cuối cùng là hấp dẫn nhất với tôi. Đó chính là RDI. Slide 14: Chúng ta sẽ thiết kế lại đôi chút quá trình này như thế nào để phù hợp với trẻ TK?
- Đầu tiên là phải hiểu xem với trẻ thường quá trình này diễn ra như thế nào? Vì nếu chỉ biết một cách trực giác thì chẳng giúp được chúng ta phải không?
Đây là những trẻ đã thất bại ở cơ hội thứ nhất khi chúng ta làm theo trực giác. Do dễ bị tổn thương về thần kinh, chúng không thể sử dụng được những thông tin mà cha mẹ cho chúng một cách trực giác. Vì vậy khi ta nói là làm lại thì ta không thể làm một cách trực giác một lần nữa. Mà chúng ta phải nghiên cứu hiểu rõ về quá trình đó để làm lại nó một cách có chủ ý nghĩa là biết rõ mình đang làm gì, chậm hơn, từng bước từng bước một cho trẻ TK dễ tiếp thu hơn. Slide 15: Dạy khả năng thích ứng linh hoạt thì khác dạy các kỹ năng tĩnh ở chỗ nào? Hầu hết cha mẹ đều cố gắng dạy cho trẻ cả hai khả năng này. Nhưng khi bạn nghiên cứu về sự phát triển của trẻ, bạn sẽ thấy là cha mẹ dạy trẻ chủ yếu là khả năng thích ứng linh hoạt trong vài năm đầu đời, rồi sau đó mới dạy thêm các kỹ năng tĩnh. Đó là nền tảng để trẻ phát triển lên mà trẻ TK bị mất nhiều phần của nền tảng này.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Bạn thường vẫn làm việc này mà không hề biết là mình đang làm. Và đến tận bây giờ bạn vẫn đang làm việc đó. Cùng quay lại khái niệm về quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống. Nếu bạn là trẻ bình thường, có bố mẹ bình thường thì bạn sẽ hiểu ngay quá trình này là hiển nhiên. Slide 16: Quá trình này diễn ra với sự hợp tác đôi bên. Cùng nhìn lại ví dụ về thầy giáo dạy đàn cheramio và tôi. Ông ấy không ngồi đối diện và chỉ tôi phải làm gì, ông ấy không chỉ dẫn tôi. Quá trình này không dựa quá nhiều vào chỉ dẫn. Nó chủ yếu là demo, làm mẫu, cùng tham gia làm. Làm mẫu ở đây là để chỉ dẫn chứ không phải là cho trẻ xem rồi mặc trẻ tự làm. Rõ ràng là có một người hướng dẫn và một người học việc. Dù là chỉ dẫn nhưng nó không làm trẻ ngừng động não. Nghĩa là không chỉ dẫn theo kiểu “con làm cái này cái kia”. Nó chỉ dẫn theo kiểu, “hãy nhìn mẹ này/hãy để ý cách tư duy của mẹ, hãy lắng nghe”. Nó dẫn dắt sự tập trung của bạn thôi, chứ không dẫn dắt hành vi của bạn. Hãy dạy trẻ thông qua những hoạt động có thật, với mục tiêu thực sự ý nghĩa với cả người hướng dẫn và người học việc. Người học việc cùng làm với người hướng dẫn như nhân viên mới vào làm. Chúng là những người học việc trong cách tư duy nhận thức. Người học việc không nhất thiết học làm một công việc cụ thể. Chúng đang học cách tư duy, giải quyết vấn đề cho phù hợp với thế giới xung quanh. Ví dụ bạn dẫn một trẻ mới biết đi đến siêu thị. Bạn chỉ cho chúng thấy bạn làm gì và giao cho chúng một nhiệm vụ. Bạn chỉ dẫn cho trẻ có phải để tuần sau trẻ tự đi mua hàng không cần bạn đi cùng không? Không, mà bạn dùng việc đó để làm nền tảng cho các kỹ năng khác nhau. Chúng ta không nhằm vào việc đi mua hàng. Nhưng đó là nền tảng để dạy trẻ cách tư duy, cái gì quan trọng, cái gì không quan trọng, quyết định ra sao, biết cách cẩn trọng, lúc nhanh lúc chậm, không chỉ gắn với mỗi siêu thị. Nếu bạn có trẻ bình thường bạn sẽ thấy chúng học hỏi được rất nhiều, chúng liên hệ, hiểu ra sự việc, đặt câu hỏi, tò mò chỉ “cái này là cái gì?”, bạn đã đánh thức quá trình tư duy của trẻ. Nếu bạn đã từng nuôi dạy trẻ thường và ở nhà với chúng rồi quay lại và xem chậm lại, bạn sẽ thấy đó là một quá trình rất phức tạp. Đó chính là việc mà các nhà tâm lý phát triển vẫn làm. Họ xem lại quá trình tự phát này và diễn lại chậm hơn để trẻ hiểu được, diễn tả nó. Chúng tôi nhận thấy ở mỗi nền văn hóa cha mẹ có cách dìu dắt nuôi dạy con khác nhau, nhưng tất cả các nền văn hóa đều có quá trình này diễn ra. Slide 17: Mục tiêu có ý nghĩa và dễ hiểu: Ví dụ bạn đi với trẻ 18 tháng vào siêu thị mà bạn cố gắng giảng giải cho trẻ phải tiết kiệm chi để dành tiền đi nghỉ thì có dễ hiểu không? Có lẽ với bé 18 tháng, mục tiêu của bạn nên là làm sao để không làm đổ vỡ các thứ. Bạn phải giao cho trẻ một vai trò chính đáng.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Bố mẹ thường cố cho con đến trường, một lý do là vì bố mẹ phải đi làm. Nhưng với cả bố mẹ không phải đi làm thì họ vẫn cho con đi học vì các chuyên gia thường khuyên họ cho con đến trường. Điều này không hoàn toàn đúng và với trẻ TK thì càng không nên. Chính những gì bạn dạy con ở nhà mới thật quan trọng. Ở hàng xóm nhà tôi có cậu bé 3 tuổi. Ngày nào bố và cậu cũng đi đổ rác. Bố đổ túi to còn con đổ túi nhỏ. Nếu bố cậu tự làm hết thì nhanh hơn nhiều. Nhưng điều quan trọng là hai bố con đã có khoảng thời gian giúp con học hỏi, ngoài chuyện tương tác với nhau. Học cách trông chừng, làm thế đã được chưa, biết giả định (grey area thinking), tìm ra những cách làm khác nhau, phối hợp cùng làm với nhau. Từ việc cùng đi đổ rác cậu bé học được biết bao nhiêu điều. Trong khi đi đổ rác, cậu bé có học được chút kỹ năng tĩnh nào không? Khi nào con bạn lớn khoảng 17 tuổi, bạn muốn chúng tự đi đổ rác thì có lẽ bạn sẽ bắt đầu dạy chúng kỹ năng tĩnh này. Nhưng đó là sau này. Giữ vai trò này, trẻ có cơ hội đối thoại trao đổi, mà không nhất thiết phải bằng lời. Trẻ có thể thăm dò nét mặt người hướng dẫn để biết mình làm có đúng hay không. Hai người cũng làm có đồng bộ với nhau không? Việc giao tiếp không nhất thiết phải là hội thoại mà quá trình làm. Và ngôn ngữ sử dụng cũng nằm trong ngữ cảnh công việc đang làm chứ không phải về bất cứ thứ gì. Nhân tiện tôi cũng xin nói là phụ nữ thường hay trao đổi về mọi thứ không nhất thiết phải liên quan đến ngữ cảnh. Còn đàn ông thì chỉ trao đổi quanh những việc đang làm, liên quan đến ngữ cảnh. Vì thế nếu bạn có con trai, bạn nên lưu ý có thể con bạn không thích nói nhiều nhưng chúng vẫn giao tiếp xung quanh các việc cùng làm. Slide 18: Chủ động và cùng tham gia làm Người Trung Quốc có câu: Nói tôi nghe - thì tôi quên Chỉ cho tôi - thì tôi nhớ Để tôi làm - thì tôi hiểu Và quá trình dìu dắt nuôi dạy con thâm nhập cuộc sống dựa chủ yếu trên nguyên tắc này. Slide 19: Quá trình dìu dắt nuôi dạy con thâm nhập cuộc sống là quá trình đưa ra thử thách Người hướng dẫn phải thận trọng đánh giá trình độ của người học việc và giao cho họ thử thách cao hơn trình độ của họ một chút, theo thuật ngữ mà nhà tâm lý học Nga nổi tiếng Vygotsky thì đó là “vùng cận biên của mức độ phát triển” (zone of proximal development). Nghĩa là cha mẹ ở đâu cũng vậy, họ luôn trăn trở tiếp theo mình nên đưa ra thử thách nào. Họ dùng trực giác để hiểu liệu mình đã nên nâng mức độ khó lên nữa không? Và điều kỳ diệu là họ làm điều này rất nhanh bằng trực giác. Và họ liên tục nâng mức độ thử thách lên. Vì thế chúng tôi mới nói là quá trình dìu dắt này là dựa trên thử thách. Slide 20: Để làm được điều này, họ xây dựng cầu nối tạm. Tức là họ luôn luôn lấp vào khoảng trống giữa mức độ hiểu biết và khả năng hiện tại với tương lai của người học việc. Trong quá trình làm RDI, tôi sẽ chỉ cho bạn nhiều lần điều này.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Slide 21: Người hướng dẫn cân bằng giữa thử thách và trợ giúp. THỬ THÁCH Họ định ra cái cần tập trung chú ý (joint attention): đây là cái chúng ta cần tập trung chú ý. Có giới hạn và biên giới. Liên tục thêm các biến tấu để trẻ không bị tĩnh/lập trình, hễ cứ câu hỏi này thì trả lời như thế này Phản hồi có chọn lọc: ví dụ là nếu trẻ có kêu hay hét thì bạn không nhất thiết phải phản ứng lại, kẻo trẻ càng thêm rối. Tôi từng biết có cha mẹ chủ trương là hễ con họ nói câu nào là họ phải phản hồi lại. Bởi vì không phải lúc nào con bạn nói cũng để giao tiếp có ý nghĩa. Có nghĩa chúng nói với bức tường. Bạn hồi đáp lại chỉ làm cho thêm ồn ào. Bạn làm cho trẻ càng thêm rối để hiểu giao tiếp là để làm gì. Tạo ra thử thách phù hợp: ví dụ con bạn 5 tuổi thì bạn không thể dạy trẻ biết lái xe được. Liên tục yêu cầu trẻ gánh vác trách nhiệm cao hơn. Bạn phải luôn nghĩ trước 1 bước TRỢ GIÚP: Đơn giản hóa và loại bỏ những gì không thiết yếu: Ví dụ tôi có năng khiếu về văn thơ, nhưng tôi lại viết rất xấu. Các lời thơ đến với tôi rất nhanh nhưng tôi mà viết ra thì không ai đọc ra nổi. Vào thời tôi học thì học sinh tài năng thường là những trẻ kỳ cục, khác người. Họ phân ra là học sinh lanh lợi, và học sinh tài năng. Và tôi là học sinh tài năng. Cô giáo văn học của tôi nói là đây là giờ văn học, không phải giờ chính tả. Vì vậy hãy đọc đoạn thơ mình làm. Cô giáo bảo đó là bài thơ hay nhất cô ấy được nghe, và cô giáo viết rồi dán bài thơ của tôi lên tường. Thích ứng với các điểm hạn chế: Loại bỏ những gì gây mất tập trung: Mỗi lần chỉ tập trung vào 1 việc Làm chậm lại để trẻ có thời gian cân nhắc và phản hồi. Slide 22: Vai trò của người hướng dẫn: Hợp tác cùng làm, ở bên cạnh, mẹ làm một phần – con làm một phần, con xem mẹ làm này để học tự làm. Hạn chế việc ra lệnh làm cái này cái kia. Đề ra mục tiêu có ý nghĩa và giao cho trẻ đảm nhiệm những vai trò thực: không nên hướng dẫn một cách giả tạo Chủ động và cùng tham gia: đừng quá chú trọng vào kết quả việc làm mà hãy chú trọng tư duy có thể được kích thích ra sao. Như thế trẻ mới có thể biến cái đã hiểu thành của mình, tổng kết khái quát hóa, áp dụng vào đúng ngữ cảnh.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Dựa trên thử thách: luôn nghĩ xem tiếp theo sẽ đưa ra thử thách gì, để trẻ khám phá ra cách tư duy nào, nguyên tắc ý tưởng gì, cách tổng hợp thông tin, suy ngẫm về môi trường như thế nào? Ví dụ bạn cho trẻ đi vườn bách thú. Đến thế giới đại dương, trẻ được thấy 1 con cá mập và 1 con cá voi. Trẻ chạy lại chỗ con cá mập nhỏ, và nói “Mẹ ơi, nhìn con cá con này”. Và trẻ chạy lại chỗ con cá voi và lại nói “bố mẹ hãy nhìn con cá này này”. Bạn không thể nói là cá voi thực ra không phải là cá mà là động vật có vú. Rồi giảng giải về nhóm các động vật. Nhưng khi trẻ đã lớn hơn nhiều, bạn có thể nói là con cá voi này trông giống cá nhưng thực ra nó là động vật có vú. Bạn đưa ra thử thách cho trẻ là phải phân loại cho đúng. Bạn phải luôn luôn cân nhắc ở độ tuổi đó thì thử thách nào là vừa sức trẻ. Và bạn cứ nâng dần mức độ thử thách lên. Cầu nối mức độ nhận thức: Quá trình này nhằm giúp trẻ tự khám phá cách tư duy. Nếu bạn cứ luôn luôn cho trẻ câu trả lời, trẻ sẽ không bao giờ học được cách tư duy. Cân đối giữa thách thức và trợ giúp: Ví dụ khi bạn đưa cho trẻ thử thách, bạn phải loại bỏ những gì làm phân tán sự chú ý.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.
yến -
Phần 9 Diễn tiến thông thường của quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống Bài nói chuyện của Dr. Gustein (2008) Slide 1: Diễn tiến thông thường của quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống Slide 2: Trẻ bình thường đã phát triển những nền tảng nhận thức quan trọng nào trong 2 năm đầu đời, thậm chí trước cả khi trẻ bắt đầu nói? Nếu trong hai năm đầu đời đó, những nền tảng này chưa phát triển thì liệu trẻ có thể làm lại nó không? Bạn có cảm nghĩ gì nếu bạn có thể giúp con bạn làm lại quá trình này, từng bước từng bước một? Slide 3: Quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống: Bạn học cách thâm nhập cuộc sống bằng cách nào? Chắc chắn không phải là ngồi trong lớp và nghe giảng rồi. Barbara Rogoff đã gọi quá trình này là quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống. Có một điều mà có lẽ bà không hề có khái niệm là có một nhóm trẻ không hề trải qua quá trình này. Bà có nói là có một nhóm trẻ có thể vì bị bắt đến trường học sớm quá, khiến bạn phải làm lại, lập trình lại quá trình này. Tuy nhiên có một nhóm trẻ thậm chí chưa từng bao giờ khởi động quá trình này. Điều gì sẽ xảy ra nếu có một nhóm trẻ đã bỏ qua hẳn quá trình phát triển xã hội làm nền tảng cho sự phát triển khả năng thích ứng linh hoạt của não? Quá trình này đòi hỏi phải có một người dìu dắt và một người học việc. Sự phát triển nhận thức của trẻ: tư duy và giải quyết vấn đề, thương lượng thỏa hiệp với thế giới, chứ không phải tiếp nhận tích tụ lại. Đây chính là đinh nghĩa mới của nhận thức, khác với định nghĩa cũ. “Sự phát triển nhận thức của trẻ diễn ra trong quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống trong các hoạt động xã hội, có người đồng hành trợ giúp, giảng giải các kỹ năng sử dụng các công cụ của nền văn hóa đó”. Phương pháp luận hàng đầu của RDI là quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống. Nó không phải là cái cá nhân tôi tạo ra. Nó là “công nghệ” do Chúa tạo ra. Nó tiếp diễn trong mọi nền văn hóa tùy theo hiểu biết của mọi người. Không biết thế có phải là “công nghệ” gì không? Nó chắc chắn không phải là công nghệ “nhân tạo” gì rồi. Nó chỉ là những gì diễn ra trong cuộc sống của bạn thôi.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Điểm riêng biệt của nhóm các trẻ này là quá trình này không hề diễn ra. Quá trình đó quá tuyệt vời nên chúng ta sẽ cố gắng tái tạo lập trình lại nó. Và điểm độc đáo của RDI là chúng tôi sẽ tập trung vào việc tái tạo lại quá trình này. Quá trình này đã được đông đảo giới tâm lý học chấp thuận. Chúng ta sẽ làm việc với các gia đình, những người đã rất nỗ lực tiến hành quá trình này mà không được. Slide 4 Quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống đòi hỏi phải có:
- Một người dìu dắt và
- Một người học việc sẵn lòng học hỏi
Phải có cả hai. Không thể tiến hành quá trình này xuất phát từ ý muốn chủ quan của một phía. Dù bạn có là người dìu dắt tuyệt nhất thế giới, nhưng nếu bạn không có một người học việc có khả năng tiếp thu sẵn lòng học hỏi, thì bạn cũng sẽ thất bại. Đó là cái khó của quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống. Nếu người học việc tỏ thái độ “xin lỗi, tôi chẳng muốn tìm hiểu về thế giới này, tôi cũng chẳng muốn nhận các thử thách mới, tôi không muốn đối đầu với những bất trắc, tôi không muốn biết trong tình huống mới thì phải tư duy thế nào, để tôi yên”, thì dù bạn là người dìu dắt tài năng nhất thế giới thì kết quả sẽ ra sao? Chắc chắn là thất bại rồi. Quá trình này đòi hỏi phải có sự đối thoại thực sự giữa người dìu dắt và người học việc, người học việc phải thích được nhận các thử thách, và có trao đổi với người dìu dắt khi gặp phải thử thách quá sức. Nếu bạn quan sát trẻ bình thường, bạn sẽ thấy điều này diễn ra liên tục. Cha mẹ nhìn trẻ và điều chỉnh thử thách đưa ra, trẻ lại tiếp tục với thử thách mới. Ngay từ đầu đời của trẻ bình thường đã có sự trao qua đổi lại giữa trẻ và bố mẹ. Có như vậy người hướng dẫn mới biết mình nên hỗ trợ đến mức độ nào, thử thách ở mức nào. Họ phải thu nhận những phản hồi đáng tin cậy từ trẻ. Slide 5: Người học việc phải có lý do để tin tưởng rằng mình có thể làm được việc này. Chúng phải đã từng làm được những hoạt động tương tự ở mức độ dễ hơn. Ví dụ cha mẹ cho con đi đổ rác cùng, không phải để trẻ biết đổ rác mà để biết cách phối hợp với bố mẹ. Người học việc phải tin cậy người dìu dắt mình sẽ là nơi tham khảo thăm dò ý kiến. Trong thế giới luôn biến đổi, không phải lúc nào bạn cũng có câu trả lời, và bạn biết mình có thể tham khảo ý kiến của người dìu dắt mình. Người học việc không phải bỏ chạy hay tự giải quyết nó mà có thể nhờ cậy cha mẹ. Khi con không biết xử trí như thế như thế nào, con tin ở cha mẹ và quay sang nhờ cậy cha mẹ. Slide 6: Và người học việc phải phát triển khả năng dạn dĩ tự vượt qua và hồi phục: nghĩa là tôi có thể làm hỏng nhiều lần, mọi sự không thành, làm lại, và cuối cùng thì cũng làm được. Slide 7:
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Đây là những gì diễn ra ở 18 tháng đầu đời của một trẻ bình thường mà ở trẻ TK thì không có:
- Sự đối thoại giữa người dìu dắt và người học việc
- Trẻ tin và nhờ cậy vào người dìu dắt
- Trẻ xây dựng khả năng tự vựợt qua và phục hồi
Dù bạn có muốn quá trình này diễn ra mà con bạn không sẵn lòng thì bạn không thể đạt được mục tiêu của bạn. Slide 8: Hãy nói về sự đối thoại giữa người dìu dắt và người học việc: Thông qua quá trình này, người dìu dắt và người học việc có được những phản hồi cần thiết, liên tục và hai chiều. Cha mẹ luôn xem khả năng của con tiến triển đến đâu: ôi con đã đi được rồi đấy, vậy con hãy bước về phía này nào. Cha mẹ cũng rất nhậy cảm trong việc đánh giá xem liệu mình có đi quá nhanh so với sức con không? Người học việc biết cách cho người dìu dắt biết khả năng của mình để người dìu dắt còn hỗ trợ kịp thời. Giữa hai người này có quá trình giao tiếp năng động diễn ra. Quá trình này kể cả trẻ thường cũng phải qua học hỏi mới có được. Nếu là con đầu lòng, thì chính bạn cũng phải học hỏi cùng với con. Cũng vì thế mà tôi có nói rằng nếu con đầu của bạn đã là trẻ TK thì sẽ khó khăn hơn cho bạn. Vì bạn chưa hề biết nhẽ ra con bạn phải biết làm gì. Vì thế bạn dễ trách móc bản thân mà không nhận ra rằng dù bạn có làm gì đi chăng nữa, thì cũng chỉ đến thế thôi. Phần đối thoại này là vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta không thiết lập lại quá trình này, thì chẳng thể làm tiếp được việc gì. Nếu chúng ta đưa cha mẹ rời khỏi vai trò vị trí này, để dành chỗ cho các trị liệu viên, cho trẻ đến trường, thì bạn nghĩ liệu quá trình này có thể thiết lập lại được không? Chúng ta đã lấy đi cơ hội để quá trình này diễn ra. Chúng ta chưa hề có nghiên cứu là liệu trẻ TK có thể làm lại quá trình này không. Và chưa hề có nghiên cứu thì không có nghĩa là chúng không thể diễn ra. Slide 9: Vậy vai trò hàng đầu của cha mẹ là gì? Là người dìu dắt, tìm ra khả năng tối đa của trẻ, và đưa cho chúng thử thách ở ngưỡng đó. Cha mẹ vẫn luôn luôn làm điều này. Nếu bạn không làm điều này thì bạn không còn là cha mẹ nữa. Tất nhiên là bạn phải làm cả việc hướng dẫn nữa chứ không chỉ là giục giã. Chính vì thế mà bạn cần bắt đầu từ quan hệ 1:1 Slide 10: Phối hợp để giao tiếp trao đổi Như đã nói ở trẻ thường điều này diễn ra rất sớm. Trẻ dành hàng nghìn giờ để học cách phối hợp với cha mẹ.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Cha mẹ thường chơi các trò chơi với trẻ. Tuy vẫn là trò chơi đó, vẫn luật chơi đó, nhưng mỗi lần nó lại diễn ra có chút thay đổi. Đó là sự biến tấu liên tục để khuyến khích trẻ động não. Cái quan trọng không phải là cách thức làm mà là chủ đề chung, khái niệm chung. Ví dụ như trò chơi “Ú òa”. Bạn muốn trẻ biết gì khi chơi trò này, có phải cách chơi trò này không? Tại sao trò này lại có ở tất cả các nền văn hóa, mỗi nước lại chơi theo một cách khác nhau. Và mỗi lần bạn chơi trò này, bạn lại làm theo một kiểu khác. Vì bạn không muốn trẻ học cái lặp đi lặp lại để học cách chơi ú òa mà muốn trẻ nhận ra sự thay đổi trong giọng nói, âm thanh: từ chỗ đang im lặng, bỗng âm thanh ú òa vang lên. Bạn muốn dạy con điều đó cơ. Có người chơi ú òa với một tấm vải, có người dùng tay. Trong trò ú òa này, ban đầu trẻ chỉ giữ vai trò bị động thôi. Đến khi trẻ 8-10 tháng, trẻ lại chơi ở mức độ khác, nó gần với trò trốn tìm hơn. Slide 11: 8 giai đoạn phát triển giao tiếp thông thường:
1. Cơ thể - động tác
2. Khuôn mặt
3. Cử chỉ
4. Giọng nói: Đến giai đoạn này thì sự giao tiếp năng động đã phát triển hoàn toàn rồi, không cân thiết phải đợi đến giai đoạn 5
5. Lời nói
6. Tư thế
7. Ngữ cảnh
8. Những quan hệ từ trước và sắp tới
Vậy nếu bạn bắt đầu từ số 5 thì bạn đã bỏ qua nền tảng của quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống rồi. Slide 12: Thăm dò/tham khảo thái độ của người dìu dắt hướng dẫn. Đây là một thí nghiệm từ năm 1983 với một trẻ 12 tháng: 1 cái bàn có nửa mặt bàn bằng kính. Khi đứa trẻ bò đến mép phần ranh giới với phần mặt bàn bằng kính, nó nhìn sang mẹ để quyết định có nên bò sang bên đó không. Mẹ của đứa trẻ tuy không nói, giao tiếp với trẻ, nhưng trẻ nhìn vào thái độ tình cảm của người mẹ. Nếu nét mặt của người mẹ bình thản, đứa trẻ sẽ bò tiếp. Khi họ yêu cầu người mẹ tỏ nét mặt lo lắng, sợ sệt, đứa trẻ sẽ dừng lại. Đứa trẻ đã biết đọc phần thông tin không nói ra bằng lời và tổng hợp xử lý thông tin đó. Trẻ lấy thông tin về thái độ của người khác và ứng dụng vào trường hợp của mình để quyết định trường hợp của mình. Đây là một quá trình tổng hợp thông tin đồng thời từ nhiều luồng. Đây là một khả năng rất quan trọng cần có trong quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống. Trẻ phải tin cậy người dìu dắt mình, thăm dò thái độ của người đó. Và người dìu dắt đang cố gắng dạy trẻ sẽ biết tự thăm dò thái độ của chính mình. Nhưng ban đầu trẻ sẽ thăm dò thái độ của người dìu dắt rồi sau này mới biết thăm dò thái của chính mình. Chúng ta không muốn trẻ tự thăm dò thái độ của chính mình quá sớm, đó là thực trạng của trẻ TK. Vì thế mà những trẻ đó hay nhìn quạt quay tròn, thích xem video. Nhưng nếu cứ tự thăm dò thái độ của chính mình thì trẻ không thể tiến bộ phát triển được hoặc chỉ ở mức độ rất sơ khai. Ví dụ về thăm dò thái độ ở mức độ phức tạp hơn: anh có ấn tượng giống tôi về cô ấy không? Anh có cảm thấy cô ấy hơi hằn học không? Mức độ này có lẽ phải đến trẻ 3 tuổi mới có thể có được. Slide 13:
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Chia sẻ quan điểm: Khi trẻ được 2 tuổi, trẻ đã biết giao tiếp để hiểu được người dìu dắt đánh giá thế nào về những gì họ nhìn, nghe, và sờ thấy và tự so sánh với đánh giá của mình. Trẻ cũng nhận ra mình có thể “mượn” những quan điểm của người lớn. Người học việc hiểu rằng họ không nhất thiết phải tự giải quyết tất cả các vấn đề. Điều này rất có ý nghĩa khi trẻ tự khám phá thế giới và đối mặt với nhiều điều không biết trước. Chúng muốn quan sát xem người lớn suy nghĩ thế nào: Khi trẻ được 12 tháng, trẻ rất hay chỉ nhiều thứ. Và những từ đầu tiên chúng hay nói là “Cái đó là cái gì đấy?”. Khi trẻ được 18 tháng tuổi thì trẻ thường bắt bạn chú ý đến mình, bất kể bé gái hay trai. Bạn hay phải nói với chúng những câu như “Mẹ đang nghe điện thoại đã nhé - Bố đang bận tắm đã nhé”. Giai đoạn đó trẻ chưa thể độc lập tự nhận định thế giới quanh mình, nên chúng liên tục quay sang bạn. Chúng liên tục muốn chia sẻ thế giới với bạn. Chúng muốn biết mọi thứ vận hành như thế nào. Chúng như thể những nhà thí nghiệm non trẻ bám nhằng nhẵng lấy bạn là nhà thí nghiệm có thâm niên hơn. Slide 14: Thăm dò/thăm khảo thái độ là một mốc phát triển quan trọng Trông cậy vào người dìu dắt trong cách nhìn nhận đánh giá. Đến năm 2 tuổi, chúng đã biết giao tiếp để hiểu suy nghĩ đánh giá của người lớn. Trong ảnh này cậu bé đưa một vật cho mẹ và nhìn mặt mẹ xem mẹ nghĩ gì về vật đó. Cậu bé muốn từ đó tìm hiểu đó là vật gì, có hay ho không, vì thế cậu ấy thăm dò thái độ của mẹ cậu. Cái đó ta gọi là “sự chú ý chung” – joint attention. Bé mang tất cả các thứ ra hỏi ý kiến cha mẹ, để tìm hiểu về các thứ đó. Chúng muốn so sánh quan điểm chứng kiến của mọi người với cái của chính bản thân: Phần giao tiếp để chia sẻ trải nghiệm là khiếm khuyết được ghi nhận rõ nhất của trẻ TK Với những vấn đề trắng đen, một số bạn có thể nói đứa con TK của tôi có biết thăm dò thái độ, nhưng liệu chúng có biết phát triển nó lên ở mức độ phức tạp hơn không. Trẻ TK hầu như không bao giờ khởi xướng việc này. Slide 15: Khả năng dạn dĩ tự vượt qua thất bại và phục hồi. Người dìu dắt cố gắng điều tiết bầu không khí để trẻ có thể đảm đương được những thách thức. Tuy nhiên sẽ có lúc sự giao tiếp này bị phá vỡ và trẻ cảm thấy mình bị quá tải. Bạn đưa ra thử thách, trẻ có thể làm được, nếu không làm được, bạn lại điều chỉnh. Trẻ phải vượt qua được cảm giác không làm được đó để tiếp tục đảm đương những thách thức bạn mới đưa ra. Đó là quá trình thử nghiệm của cha mẹ, làm chưa đúng, làm lại và trẻ phải biết chấp nhận sự chưa đúng đó. Khả năng dạn dĩ tự phục hồi qua những khoảnh khắc khó khăn mà không mất đi niềm tin và động lực, chấp nhận thử thách mới là nền tảng cho sự học hỏi phát triển nhận thức: Không thể lúc nào bạn cũng đánh giá đúng ngay trình độ của con bạn. Trong thế giới này có bao nhiều điều có thể chưa chuẩn xác, và trẻ phải biết chấp nhận chúng. Slide 16: Khả năng dạn dĩ tự phục hồi vượt qua – một kỹ năng tiền đề quan trọng:
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Đây là một khiếm khuyết trầm trọng ở trẻ TK Một điều tôi rất lo ngại là trẻ TK bị mất đi thậm chí chưa hề có khả năng dạn dĩ tự vượt qua những khoảnh khắc khó khăn. Trẻ phải hiểu được là thế giới không hoàn hảo, có thể trục trặc chỗ này chỗ khác. Bạn học được khả năng dạn dày tự vượt qua này không phải từ những lần thành công, mà là từ những lúc bạn phải đối mặt với thử thách, có thể phải làm đi làm lại mới được. Quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống diễn ra trong một thế giới hỗn độn. Không phải lúc nào cha mẹ và con cái cũng phối hợp nhịp nhàng với nhau. Nếu một trong hai người rút lui hoặc lảng tránh khi gặp phải khó khăn thử thách thì quá trình này sẽ không tiếp diễn nữa. Slide 17: Biết trước mọi việc không hoàn hảo Trong quá trình phối hợp giữa cha mẹ và con cái, không phải lúc nào cha mẹ hành động cũng chuẩn xác. Sự phối hợp chuẩn xác chỉ là 30%. Đó là với trẻ bình thường. Như vậy từ lúc còn rất nhỏ trẻ đã tập quen với sự không hoàn hảo và hỗn loạn. Qua quá trình đó mà người ta học được khả năng dạn dĩ, tự phục hồi – vượt qua những đổ vỡ. Slide 18: Khi trẻ được 5 tháng tuổi, trẻ đã biết là trong quan hệ với người chăm sóc mình, sẽ có lúc mối quan hệ này trục trặc và sẽ có lúc lại bình thường. Ở trẻ TK thì khả năng này không hề có. Slide 19: Theo Alan Sourfe thì nếu trẻ nào hễ gặp cái mới là rút lui hoặc không duy trì được mối quan hệ với người chăm sóc mình thì sẽ gặp trở ngại đáng kể trong bước phát triển tiếp theo khi phải đối mặt với thử thách và phải giải quyết vấn đề. Đây chính xác là vấn đề của trẻ tự kỷ. Khả năng dạn dĩ tự vượt qua là rất quan trọng. Trẻ phải biết vượt qua những lần đổ vỡ, thất bại, để rồi cuối cùng thành công – đó là khả năng quan trọng nhất trẻ cần có trong 2 năm đầu. Slide 20: Nếu quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống bị thất bại thì điều gì sẽ xảy ra? Điều gì sẽ xảy ra nếu những kỹ năng nền tảng sau không phát triển:
- Khuôn khổ giao tiếp tình cảm giữa người dìu dắt và người học việc
- Niềm tin vào người dìu dắt, sự thăm dò thăm khảo thái độ của người đó
- Sự dạn dĩ tự vượt qua
Khi bạn quá thất vọng vì quá trình này không diễn ra, bạn sẽ làm mọi cách, vì bạn đâu có phương án dự phòng.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Thường thì bạn tiến hành quá trình này một cách tự phát, nên khi nó không thành, bạn thậm chí cũng không biết là cụ thể cái gì đã không thành nữa. Vì ngay từ đầu bạn đâu có ý thức về nó đâu. Nó thường diễn ra rất tự nhiên. Thế là bạn dạy chúng nào là đọc, ghi nhớ, kỹ năng xã hội. Slide 21: Vậy chúng ta có thể làm lại quá trình này không? Câu trả lời của tôi là tại sao không. Đó chính là nền tảng của RDI. Một đặc điểm chính để phân biệt trẻ TK là sự khiếm khuyết khả năng kết nối với mọi người. RDI nhằm vào nhiệm vụ tái tạo lại quá trình này. Ý tưởng này còn rất mới. Nhưng chưa ai làm không có nghĩa là không làm được. Mà thực ra là mọi người không biết làm thế nào vì nó diễn ra quá tự nhiên vô thức đến mức chưa ai nghĩ đến chuyện tái tạo lại nó. Và nếu nó không xảy ra thì ta phải bắt đầu từ đâu? Và khi nó không diễn ra, hàng ngày bạn đang gây ra những trở ngại cho nó Slide 22: Hãy cùng xem chúng ta có thể làm lại phương án A không nhé: Những bài tập mục tiêu ban đầu quan trọng đối với mọi độ tuổi Giả sử bạn bắt đầu việc này với người 20 tuổi mà người đó vẫn chưa những kỹ năng cơ bản nói trên của trẻ sơ sinh, thì họ có thể không phải làm những hoạt động của lứa tuổi đó nhưng họ phải đạt được những mục tiêu của kỹ năng đó, vốn là kỹ năng tiền đề cho giao tiếp năng động. Cũng giống như việc dạy người 25 tuổi chưa biết đọc, thì bạn vẫn phải coi họ như là trẻ 2-4 tuổi, bạn vẫn phải bắt đầu từ những mục tiêu đó. Hãy nhớ là mục tiêu khác với hoạt động nhé. Ở mỗi độ tuổi thì những trở ngại sẽ khác nhau. Ví dụ trẻ càng lớn thì việc xây dựng lòng tin ở người dìu dắt càng khó vì chúng có nhiều năm kinh nghiệm chống đối hơn. Có thể là cùng mục tiêu đó nhưng với trẻ lớn thì hoạt động là cùng đào mương, còn với trẻ nhỏ hơn thì là chơi ú òa. Hãy nhớ là mục tiêu và hoạt động là hai thứ khác biệt. Slide 23: Quá trình này sẽ mất bao lâu? Tôi muốn bạn dành hàng nghìn giờ cho quá trình này. Trẻ thường 3 tuổi cần 5000 giờ để thành thạo những kỹ năng này. Và bạn có một đứa con TK đã mất đi 5000 giờ này, vậy bạn có thể hy vọng gì là làm RDI nửa tiếng một tuần sẽ giúp gì được cho con bạn. Có người hỏi tôi là tôi còn muốn dành thời gian để làm các phương pháp can thiệp khác. Nhưng nếu bạn biết tầm quan trọng của nhiệm vụ dìu dắt con, bạn có thể sẽ thay đổi thứ tự ưu tiên. Và nếu quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống bắt đầu thì tự nhiên các kỹ năng khác cũng tự động bắt đầu phát triển.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Slide 1: Học trực tuyến - Phần 10 Quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống không diễn ra với trẻ TK Bài nói chuyện của Dr. Gustein (2008) Slide 2:
 Hãy ngẫm xem các vấn đề hành vi của trẻ TK. Chúng có phải là triệu chứng của TK không, hay do cách nuôi dạy thiếu nhất quán của cha mẹ, hay đó chính là cách hợp lý nhất giúp trẻ đối phó với thế giới dường như hỗn độn với chúng?
 TK có phải là một thứ gì cố định, tĩnh tại hay đó là một quá trình?
Slide 3: Tại sao ở trẻ TK, quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống không diễn ra
Sự thiếu hụt của hệ thống phản hồi linh hoạt – hệ thống trao đổi tình cảm qua lại
Chúng ta đã mất đi hệ thống giao tiếp khởi đầu này, mất những phản hồi. Có nhiều người nhớ lại là hồi đầu, có lẽ phần giao tiếp đã có gì đó. Vâng với một số trường hợp, có thể nó đã diễn ra, sau đó thì lạc lối. Một số trường hợp thì điều này chưa hề diễn ra ngay từ đầu. Có bố mẹ thì nói là trẻ đang bình thường rồi tự nhiên có gì đó không ổn. Có cha mẹ nói là bỗng một hôm thức dậy có gì đó không ổn, có cha mẹ lại nói là có gì đó không ổn dần dần diễn ra. Nói chung là sự trao đổi điều chỉnh tình cảm qua lại, sự đưa ra thử thách đã bị lạc lối. Không hề có sự phối hợp, hai bên cùng tham gia.
 Không hề có niềm tin ở cha mẹ và phân biệt nhận thức với cha mẹ (sự thăm dò thái độ)
Sự thăm dò thái độ có thể không hề có hoặc ngừng phát triển. Một số trẻ TK có khả năng thăm dò thái độ ở mức rất sơ đẳng. Lúc nào chúng cũng nhìn để hỏi “Con làm đã đúng chưa?”. Thăm dò thái độ là để khi có gì không biết thì trẻ biết là có thể tham khảo thái độ của người khác để giải quyết thách thức đó. Tất nhiên là không phải lúc nào cũng thăm dò thái độ của người khác. Nếu lúc nào cũng làm vậy thì là bạn đang dựa dẫm vào người khác. Ở trẻ TK, chúng ta hầu như đều thấy trẻ không biết thăm dò thái độ. Ngoài ra chúng còn không biết chia sẻ quan điểm, cách nhìn nhận.
 Chúng ta còn thấy trẻ TK không có khả năng dạn dĩ tự vượt qua thất bại và phục hồi.
Slide 4: Tại sao những nền tảng này không phát triển?
 Sự phản hồi linh hoạt, tự nhận thức, thăm dò thái độ và khả năng tự phục hồi không hề diễn ra
Hãy cũng xem diễn tiến của bệnh TK. Có thể bắt đầu, tình trạng thần kinh, tâm sinh lý của các trẻ này khác nhau. Nhưng chúng đều có những điểm xung yếu nào đấy.
 Mỗi trẻ có một số tập hợp những xung yếu thần kinh khác nhau
Nguyên nhân bệnh không nhất thiết đều giống nhau
 Nhưng kết cục đều giống nhau
Bệnh ung thư cũng tương tự vậy. Nhiều người bị ung thư gan do ăn nhiều loại thịt đỏ, nhưng như anh họ tôi bị ung thư gan thì phần nhiều là do yếu tố gien, anh ấy chẳng ăn nhiều thịt đỏ. Slide 5:
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.
Tài liệu của Câu lạc bộ Tự kỷ Hà Nội dành cho các gia đình thành viên.

 Ngưỡng đổ vỡ của hệ thần kinh
Tôi muốn các bạn suy ngẫm về 3 điều trong chu kỳ của TK, nếu các bạn nhìn theo diễn tiến của bệnh: Thứ 1 là sự đổ vỡ của hệ thống giao tiếp linh hoạt Thứ 2 là thiếu lòng tin và khả năng phục hồi Thứ 3 là ngưỡng đổ vỡ của hệ thần kinh Là ngưỡng mà khi có một sự tác động thần kinh nào đó đến trẻ, một sự đổ vỡ sẽ diễn ra, xóa sách thứ 1 và thứ 2 Ví dụ, ngưỡng tối thiểu của đứa trẻ là 24%, cái này là tôi tự giả thuyết. Với sự xung yếu của hệ thần kinh thì dù cha mẹ có làm gì đi nữa, trẻ cũng chỉ có thể đáp ứng được 24% thôi. Trên ngưỡng đó là hệ thần kinh không làm việc nữa. Cái này là một ứng xử không theo quan hệ tuyến tính (linear). Nghĩa là đến một ngưỡng nào đó thì nó chỉ dừng ở đó thôi. Giả sử ở ngưỡng 30% thì khả năng giao tiếp linh hoạt còn hoạt động, hơn nữa là không. Đến ngưỡng đó thì mọi hệ thống đều đổ vỡ. Mỗi trẻ có thể có vấn đề khác nhau, những các vấn đề này tích tụ lại đến ngưỡng nào đó thì toàn bộ hệ thống sẽ đổ vỡ, khiến chúng đều mất khả năng duy trì các mối quan hệ. Vì thế có thể mỗi bé có diễn tiến bệnh khác nhau. Tôi nghĩ là cách lý giải này khiến chúng ta thoát ra khỏi lối nghĩ, vâng chúng là những con người thật khác biệt. Thật ra chúng có những điểm dễ bị tổn thương và ngượt qua ngưỡng nào đó, mọi thứ đều đổ vỡ. Đó là lý do tại sao chúng không ứng xử giống con người. Tôi chỉ có thể lý giải theo cách này về TK. Đó là lối tư duy không tuyến tính về bệnh này. Hiện giờ chúng ta vẫn còn bị ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ tuyến tính về bệnh này. Còn tất cả các nhà khoa học thì vẫn đang tiến lên. Slide 6: Liệu chúng ta có thể quay lại dưới ngưỡng đó không?
 Trước khi bị ung thư thì bạn đã có những vấn đề gì?
Tôi rất thích ví dụ này: trước khi bạn bị ung thư thì bạn đã có những vấn đề gì? Chắc chắn là có vấn đề này vì bạn đâu bị ung thư bẩm sinh đúng không? Vậy 10 phút trước khi bạn bị ung thư, bạn ở tình trạng thế nào? Liệu bạn có hoàn toàn khỏe mạnh không, và rồi một phép mầu xảy ra và bạn trở nên bị ung thư. Không, chắc chắn là bạn có những vấn đề này nọ, nó trở nên nghiêm trọng hơn mà có thể bạn không biết đến, nó cứ lớn dần lên nhưng chưa vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Và rồi chỉ một sự kiện nhỏ xảy ra vào thời điểm đó, nó vượt qua ngưỡng kiểm soát. Và rồi nó phát bệnh nhanh chóng. Hãy nhớ lại các cha mẹ có con TK thường nói là hồi 12 tháng trông con tôi cũng rất ổn. Không hiểu sao bây giờ mọi thứ đều tệ. Có thể là hồi 12 tháng con bạn đã có sẵn những yếu tố dễ bị tổn thương, và rồi nó cứ tích tụ lại đến ngưỡng nào đó thì nó phát thành bệnh sau một sự kiện không thể tránh khỏi. Và bệnh cứ tiến triển theo mô hình xoáy trôn ốc thành bệnh TK. Tôi không muốn tranh luận điều này có đúng hay không, mà tôi muốn bạn nhìn nhận về bệnh này theo một cách mới. Và nghĩ như vậy bạn sẽ có thêm niềm hy vọng. Vì như thế thì bạn không hẳn cần phải chữa bệnh đó, không cần phải hồi phục bệnh, không cần phải phẫu thuật, và cũng không phải bỏ cuộc.
Liệu chúng ta có thể khôi phục lại ngưỡng ban đầu để trẻ quay lại chặng phát triển bình thường hay không?
Nếu bạn nhìn nhận TK như là một quá trình diễn tiến thì bạn sẽ nghĩ mình có thể khôi phục lại về ngưỡng 24% ban đầu. Và chúng ta sẽ giải quyết những đổ vỡ trong tình cảm. Thì có thể chúng ta sẽ quay lại được ngưỡng ban đầu.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Nghĩ như vậy sẽ đỡ sợ hơn là hình dung ra ta sẽ phải làm lại 100% để biến trẻ thành một người khác. Slide 7: Nếu không có khả năng tự phục hồi vượt qua thử thách thì điều gì sẽ xảy ra Dr. Edward Tronick đã viết bài ở nhiều báo. Ông ấy có viết nếu con người không có khả năng phục hồi tự vượt qua thử thách thì bạn có thể trông chờ họ học hỏi gì được. Mặc dù ông ấy không hề viết về TK, nhưng khi tôi đọc bài báo của ông, tôi cứ tưởng như ông ấy viết về người TK.
Không sẵn lòng tham gia (unavailability): Trẻ sơ sinh hình thành thói quen trốn tránh (self directed style of avoidance behaviour) ví dụ quay đi, chạy trốn, để tránh kết cục không hay. Trẻ có thể chỉ tập trung vào một thứ nào đó. Ông ấy không hề nói về TK đâu nhé.
 Phản ứng sợ hãi: Mục tiêu hàng đầu của trẻ sơ sinh là tránh những kết cục không hay và chặn trước (preempt) các mục tiêu khác. Tránh xa các tình huống khiến trẻ có thể thất bại.
 Mất lòng tin: Sau nhiều thất bại, trẻ không còn tin người chăm sóc mình nữa the infant develops a representation of himself as ineffective and of the caretaker as unreliable.
Phòng thủ trong mọi trường hợp: to the extent that these self-directed regulatory behaviours are successful in controlling the negative affect, the infants begin to deploy them automatically, inflexibly and indiscriminately. Khi những hành vi lảng trốn này giúp trẻ tránh những kết cục xấu hữu ích, chúng sẽ tiếp tục hành vi này một cách cứng nhắc, bất kể điều kiện nào. Nếu lảng tránh bằng cách xem TV, vẫy tay, quay tròn các vật mà hữu hiệu, thì chúng sẽ cứ làm vậy, làm mãi.
Đây là nghịch lý của tôi: cái mà bạn có thể mong đợi ở những điều không lường trước được là chúng không thể biết trước được. Vì thế nên nếu tôi sợ những điều không lường trước được, thì tôi sẽ tìm mọi phương cách để những điều không lường trước không xảy ra. Lý do mà người ta mê tín là vì người ta muốn biết trước điều gì sẽ xảy ra. Người ta lo sợ điều không lường trước được nên người ta mới viện đến mê tín.
 Chặn trước mọi cơ hội: Preempting opportunities: pathological behaviours develop which preclude the anticipated experience of negative effect, even in situations where it might not occurs. Những hành vi này sẽ tiếp tục, để tránh cho trẻ khỏi những trải nghiệm tiêu cực kể cả khi điều này có thể không xảy ra.
Điều đáng sợ nhất là hành vi này sẽ khiến chúng chặn hết các cơ hội phát triển, trưởng thành. Slide 8: Kết cục đáng sợ của TK:
 Từ những lần thất bại mà không vượt qua được, trẻ TK đã dẫn đến
+ lảng tránh mọi cơ hội + có phản ứng lo sợ + mất lòng tin + phòng vệ bất kể trường hợp nào + chặn trước mọi cơ hội
Khả năng phục hồi tự vượt qua thất bại có thể lý giải cho hầu hết những hiện tượng nêu trên. Sự cứng nhức, hành vi tự kích thích, sự xa cách có thể không phải là cốt lõi của bệnh TK mà là cách người TK phản ứng lại với những điều không lường trước được. Những hành vi đó là cơ chế phòng vệ của TK. Khi nghĩ vậy, tôi tự nhủ có lại mình nên định nghĩa lại về TK. Với những vấn đề về hệ thần kinh, chúng phải có cơ chế để phòng vệ và tồn tại. Chúng ta cần tách biệt rõ ra để không tốn thời gian giải quyết những hành vi này. Cái chúng ta cần làm là tạo ra một môi trường để trẻ không
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

có những hành vi này nữa. Nếu không chúng ta sẽ tốn rất nhiều nỗ lực tập trung vào triệu chứng chứ không phải vấn đề cốt lõi. Với tôi, bài báo đó là cả một bước ngoặt, nó khiến tôi thêm hy vọng. Trong khi mọi người thì căng thẳng còn tôi thì hy vọng. Trước đó theo ý kiến của các nhà chuyên môn, tôi đã tin rằng mỗi người TK đều rất khác biệt, tôi thậm chí đã tin rằng họ vẫn có động cơ được nghe người khác hướng dẫn chỉ bảo. Khi tôi hiểu rõ điều này, tôi thôi không kỳ vọng nhiều ở người TK nữa. Chúng ta đã giả thuyết chúng có cái mà thực ra chúng không có. Khi tôi đọc bài báo này, tôi ngẫm lại nếu bất kỳ ai cũng hành xử như vậy, thì tôi đâu phải giả sử người TK cũng làm như vậy phải không nào. Đó mới là cách đặt vấn đề khoa học. Chúng ta không nên coi những người TK là những sinh vật kỳ lạ từ hành tinh khác đến trên một con tàu vũ trụ. Slide 9:
• Họ cũng chỉ là những con người cũng mong có bạn bè, một môi trường làm việc dễ chịu, và có bạn đời như bao người khác thôi
Họ không phải những người xa lạ hay một loại sinh vật khác lạ.
• Chúng tôi bắt đầu từ giả thuyết là nếu họ biết cách làm theo sự dìu dắt thì họ cũng muốn làm theo thôi
Vì thế nếu giả thuyết người TK không chịu đi theo sự dìu dắt của bạn không hợp lý với tôi. Có thể bạn có cảm nhận này từ những lần tiếp xúc với chúng. Nhưng theo tôi thì nếu họ tìm ra cách để làm theo sự dìu dắt của bạn, họ sẽ ngay. Chúng tôi chối bỏ bạn, chúng chối bỏ những thức thách và bất trắc thì đúng hơn. Mà tâm lý chung của cha mẹ là hay cho con những thử thách và bất trắc. Thật ra vì những đặc điểm riêng về cách xử lý thông tin, về các giác quan, v.v… chúng chỉ muốn nói rằng “cách bố mẹ đang làm không ổn, không phù hợp với con”. Slide 10: Căn bệnh TK có thể bắt đầu ở mỗi người một khác nhưng đều diễn biến theo cùng một tiến trình chung. Nếu bạn hỏi một nhà nghiên cứu bất kỳ nào về phát triển tình cảm, thì hầu hết họ cũng có thể nói cho bạn sự khác biệt giữa nguyên nhân bệnh TK (etiology) và quá trình phát bệnh TK (pathogenesis).
• Nguyên nhân bệnh (etiology) là nguyên nhân của tình trạng bệnh
• Quá trình phát bệnh (pathogenesis) là diễn biến bộc lộ những bất thường, và những rối loạn phát triển và tiến hóa.
Người đầu tiên làm việc này tương đối thành công là Peter Hobson. Ông ấy đã nghiên cứu về TK hơn 20 năm. Bây giờ tôi và ông ấy là bạn mặc dù ban đầu thì không. Ông ấy làm ở viện nghiên cứu ở University of London và London School of Medicine. Ông ấy đã viết vài cuốn sách. Một trong số đó là cuốn The Cradle of Thought, cuốn gần đây nhất (http://books.google.com.vn/books?id=OWzpKZwYNXkC&printsec=frontcover&sou...). Ông ấy đã viết trên rất nhiều các báo. Ông ấy được coi là nhà nghiên cứu lý luận về TK hàng đầu trên thế giới. Năm 1993, ông ấy cho ra một cuốn sách mà chỉ có 12 người đọc nổi nó vì ông viết cuốn ấy quá dở, chính ông cũng phải công nhận. Và tôi phải mất hơn 1 năm mới nghiền xong cuốn sách đó. Tôi không biết là cuốn đó đã được viết lại vào năm 1997. Và tôi rất tâm đắc, tâm phục khẩu phục với chương đầu của cuốn đó nên tôi cứ quẩn quanh ở chương đó mãi. Cuốn sách quá cô đọng. Tôi cứ đọc đi đọc lại. Và một trong những luận điểm ông ấy nêu ra là phải phân biệt giữa nguyên nhân bệnh và tiến trình của bệnh. Chúng ta phải phân biệt cái nào là bẩm sinh, là tiền đề của bệnh và nhìn xem tại sao những người phát bệnh thường giống nhau. Trước khi phát bệnh, họ có thể không giống nhau với những điểm dễ bị tổn thương khác nhau. Chừng nào những điểm xung yếu này chưa vượt qua một ngưỡng phát bệnh thì chúng sẽ vẫn khác nhau. Và sau đó thì não của họ đều phát triển giống nhau. Bởi vì nếu tôi tách bạn ra khỏi diễn tiến phát triển khả
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

năng linh hoạt (dynamic pathway): bạn không tập nhận thử thách, không học tư duy linh hoạt, không biết cân nhắc giữa các giải pháp lựa chọn, không dành thời gian cho những kỹ năng này, bạn sẽ không biết cách đối mặt với những bất trắc, với thế giới năng động, và bạn đã thử mà không làm được, não của bạn sẽ không phát triển theo hướng rời rạch thiếu liên kết. Não là cơ quan phát triển dựa vào trải nghiệm. Nếu lấy đi những trải nghiệm năng động, não sẽ không phát triển theo hướng này. Bạn tước đi cơ hội não được trải nghiệm những thử thách, tổng hợp, xâu chuỗi sự việc, dự trù, có những giả thuyết về những điều chưa rõ (grey area), não sẽ không phát triển một cách kết nối. Lúc này những người này sẽ phát triển não theo hướng giống nhau. Slide 11: Tư duy về TK như là một quá trình
 Khi các tổn thương thần kinh vượt qua một ngưỡng nào đó
 Não sẽ phát bệnh TK theo một diễn tiến, như một quá trình, không phải là một sự vật.
Đó là lối suy nghĩ của thế kỷ 21 chứ không phải của thế kỷ 20. Tất cả người TK đều giống nhau. Vậy mà chúng ta vẫn thường nghe nói đến sự đa dạng của các thể dạng TK. Sao họ có thể giống nhau hết được trong khi người thì không nói được tiếng nào, người thì nói liên tục. Có vẻ như có quá nhiều luận điểm minh chứng cho điều này. Sao mà họ vừa có thể giống nhau mà lại khác nhau. Lý do là có rất nhiều thứ có thể xảy ra không ổn với họ và nếu chúng tích lũy đến một ngưỡng nào đó thì sẽ dẫn đến sụp đổ nhưng những thứ đó không nhất thiết phải giống nhau. Tuy nhiên những thứ bất ổn dẫn đến đổ vỡ đó không biến đi khi họ bị TK. Ví dụ nếu trẻ bị động kinh trước khi phát bệnh TK, thì sau khi phát bệnh, chứng động kinh không mất đi mà còn nguyên đó. Và bạn sẽ phải đương đầu với chứng động kinh, đúng không? Hãy ví dụ trẻ bị mù bẩm sinh. Peter Hobson cũng nghiên cứu rất nhiều về trẻ khiếm thị. Điều thú vị là nếu bạn xem quá trình phát triển của trẻ trong năm đầu đời, bạn sẽ thấy trẻ phụ thuộc rất nhiều tuy không hoàn toàn vào thị giác. Giả sử trẻ bị mù bẩm sinh, à sẽ có bạn thắc mắc vậy hễ trẻ mù là sẽ bị TK chăng, hoàn toàn không phải vậy, mà là nguy cơ phát bệnh sẽ nhiều hơn 10 lần, tuy nhiên rất nhiều trẻ khiếm thị không bị TK, mà chúng tìm ra được cách kết nối thông qua thính giác, chúng rất kiên cường, nhưng đó chỉ là một nhân tố thôi, nhưng nó không vượt ngưỡng. Còn trẻ khác thì bị tổn thương ở mỗi thứ một ít, tuy không thứ gì trầm trọng cả: một ít về vận động, một ít về điều hòa cảm giác, một ít về hệ điều hành, và tích tụ lại chúng vượt qua ngưỡng chịu đựng. Có trẻ thì chỉ bị một vài vấn đề thôi nhưng trầm trọng. Nghĩa là khởi đầu trước khi phát bệnh ở mỗi trẻ một khác. Nhưng khi chúng tích tụ và vượt qua ngưỡng, làm hỏng quá trình dìu dắt con thâm nhập cuộc sống, các chức năng bị hỏng, và thế là quá trình phát bệnh bắt đầu. Slide 12: Mô hình của RDI dựa trên nghiên cứu lý luận Đây là mô hình mà tôi muốn thử nghiệm. Tôi và bạn đã chọn lối tiếp cận khoa học. Bạn sẽ hỏi là tại sao cái mô hình này lại quan trọng, hãy cho tôi biết kỹ thuật can thiệp đi. Lý do là bạn cần phải hiểu tại sao chúng ta làm vậy và chúng ta đang ở đâu. Nó không đơn thuần chỉ là những kỹ xảo. Chúng ta đã cố gắng xâu chuỗi với lý luận khoa học nghiên cứu và một mô hình để lý giải nó. Sau đó chúng ta mới lập ra một chương trình can thiệp. Và xem chương trình đó có hữu hiệu không. Vì bây giờ chúng ta có cái cần để thử nghiệm.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

1. Ngưỡng cuối cùng của sự tổn thương thần kinh 2. Ngừng phát triển hệ thống phản hồi linh hoạt, giao tiếp, niềm tin, khả năng tự phục hồi, mối quan hệ giữa người dìu dắt và người được dìu dắt: cái này được xây dựng dựa trên trải nghiệm 3. Mất đi quá trình bố mẹ dìu dắt con thâm nhập cuộc sống và mất đi cơ hội phát triển khả năng thích ứng linh hoạt, đây là việc không tránh khỏi 4. Trí tuệ năng động không thể phát triển 5. Sự liên lạc thần kinh giữa các vùng não suy giảm Đây là mô hình về mặt lý thuyết mà tôi đã suy ra và từ đó tạo ra RDI. Nó có đúng hay không, tôi không biết. Nhưng nó là một mô hình có thể kiểm chứng được. Và nó dựa trên các nghiên cứu. Với những nghiên cứu hiện nay thì đây là mô hình tốt nhất tôi có thể lập ra. Slide 13: Bạn sẽ lựa chọn phương án hành động nào? Bây giờ chúng ta sẽ bàn đến phương pháp can thiệp: Hãy giả sử bạn là tôi, và bạn thấy đây chính là diễn tiến của bệnh, thì bạn sẽ chọn phương án hành động nào? Bạn có thể can thiệp vào vấn đề 5 “Suy giảm sự liên lạc thần kinh giữa các vùng của não” bằng cách phẫu thuật não và cấy thêm các đường dẫn truyền cho não. Giống như Frankestein. Tôi chẳng nghĩ đó là ý hay. Có thể đến thế kỷ 25 thì chúng ta có thể làm vậy mà có thể không được, giống như máy tập chạy StarTrek vậy. Chúng ta có thể can thiệp vào vấn đề 4 – dạy cách kỹ năng giao tiếp năng động, giống như…. Mà chúng ta đã biết rồi đấy, cái này nghe chẳng hợp lý tý nào cả. Chúng ta có thể can thiệp vào vấn đề 3 – làm thế nào để khôi phục lại quá trình bố mẹ dìu dắt con thâm nhập cuộc sống. Cái quá trình này hoàn toàn không phải tôi nghĩ ra, mà tất cả các chuyên gia về phát triển đều biết, có thể họ gọi nó bằng các từ khác nhau thôi. Chứ tôi không thể tạo ra một khái niệm của riêng tôi được, tôi không phải là Chúa trời. Tại sao chúng ta lại cho rằng nó không thể sửa chữa được. Nếu ta thử mà không được thì ta sẽ biết là điều này không thể. Và thực tế là chúng ta chưa hề thử làm vậy một cách có chủ ý để mà thất bại. Chúng ta có thể quay lại can thiệp vào vấn đề 1, nhưng có quá nhiều ngưỡng, mỗi trẻ một khác. Chắc chắn là tôi mà làm việc đó thì sẽ hết cả đời. Vì thế với tôi lựa chọn cuối cùng còn lại là can thiệp vào vấn đề 2. Tôi muốn giúp các bạn hiểu quá trình tôi tư duy logic về vấn đề này. Chúng ta sẽ giải quyết sự đổ vỡ của hệ thống giao tiếp, không có trải nghiệm về sự phối hợp và khả năng tự phục hồi. Tại sao chúng ta lại không thể đảo ngược lại quá trình này. Chúng ta đã thành công trong việc điều trị các bệnh nhân bị sang chấn thần kinh, bị…và giúp họ lấy lại cảm giác tự tin. Không có vẻ như người TK không hề biết giao tiếp, mà chỉ là kém giao tiếp ở mức độ nào thôi. Tại sao chúng ta không thử khôi phục lại sự cân bằng này hơn nữa. Nó có lẽ không khó đến mức như bạn nghĩ đâu bởi vì có lẽ bạn chưa biết hết thôi.
Bản dịch phần thuyết trình của Khóa học Trực tuyến về RDI tại www.rdios.net.

Slide 14: Khôi phục lại tiềm năng phát triển của quá trình cha mẹ dìu dắt con thâm nhập cuộc sống. Tôi muốn các bạn hiểu RDI xuất phát từ đâu, vì nó không phải là kỹ thuật gì. Điều này có thể làm một số người sửng sốt. Đó có phải là cách chơi với trẻ không? Không. Bạn không nhất thiết phải chơi với trẻ. Tôi không quan tâm đến việc đó. Và kết luận logic nhất với tôi là hãy thử một phương cách, bất kể là phương cách gì để khôi phục lại tiềm năng phát triển của quá trình cha mẹ dìu dắt con thâm nhập cuộc sống. Bất kể cách nào, có thể là uống thuốc, trồng cây chuối, bất kể thứ gì miễn là nó có tác dụng. Tôi không quan tâm nó là cái gì, dù là đi theo trẻ cả ngày, cũng hề gì, kể cả những việc hơi kỳ, miễn là nó có tác dụng. Nhiều người nói với tôi là ông nghĩ chúng tôi sẽ phải làm cái này cái kia á, không tôi chỉ muốn tìm ra cách nào để khôi phục lại tiềm năng này thôi, miễn là hiệu quả. Tôi là người lạc quan, khi tôi bắt đầu chặng đường tìm kiếm lối thoát cho người TK, tôi tin rằng có cách giúp họ giao tiếp được. Và tôi tìm cách chứng minh điều đó. Rồi tôi bị cuốn theo một hướng đi khác: người khác đã chứng minh hết cả rồi, tôi chỉ việc vững tin đi theo thôi.CLB